Hiển thị các bài đăng có nhãn Cửa sổ kiến thức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cửa sổ kiến thức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 8 tháng 9, 2010

Tản mạn về thành ngữ: "Sư tử Hà Đông"

Ngày nay, cụm từ “sư tử Hà Đông” phổ biến đến nỗi thoạt nghe ai cũng biết nó ám chỉ một người đàn bà hung dữ, ghen tuông, đặc biệt là trong quan hệ vợ chồng. Vậy câu thành ngữ này có xuất xứ từ đâu?

Một số người nhầm lẫn từ “Hà Đông” ở đây là một địa danh của miền Bắc nước ta. Thực ra câu thành ngữ này bắt nguồn từ tiếng Hán, chính xác hơn là từ một bài thơ của thi sĩ Tô Đông Pha đời Tống.

Tích xưa kể rằng Trần Quý Thường (hiệu là Long Khâu cư sĩ) – bạn của Tô Đông Pha – là một người sùng đạo Phật và rất sợ vợ. Vợ của Trần Quý Thường là Liễu thị, vốn có tiếng ghen tuông, hung hãn, mỗi lần quát chồng thì tiếng hét của bà ta làm chồng run rẩy, rơi cả gậy thiền. Lúc bấy giờ Tô Đông Pha đang bị đi đày ở Hoàng Châu, rất thiếu thốn cơ cực, có viết bài thơ sau gửi bạn mình để cười cái thân phận khổ lụy của hai người:

“Đông Pha tiên sinh vô nhất tiền
Thập niên gia hỏa thiêu phàm duyên
Hoàng kim khả thành hà khả tắc
Chỉ hữu sương bính vô do huyền
Long Khâu cư sĩ diệc khả liên
Đàm Không thuyết Hữu dạ bất miên
Hốt văn sư tử Hà Đông hống
Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên"

(Đông Pha tiên sinh không một tiền
Mười năm đèn lửa xin hai bên
Hoàng kim làm được sông lấp được
Chỉ có tóc sương không chịu đen
Long Khâu cư sĩ cũng vô duyên
Bàn Không bàn Có thức suốt đêm
Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống
Hốt hoảng tâm thần rơi gậy thiền)

Bài thơ thể hiện lối ví von đầy ẩn ý thâm nho của Tô Đông Pha. Nguyên cụm từ “sư tử hống” bắt nguồn từ một pháp môn của nhà Phật: tương truyền Phật tổ sinh ra là đã nói được ngay, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, tiếng vang như sư tử gầm đánh động tâm thức người phàm để họ giác ngộ. Tô Đông Pha dùng cụm từ này vừa để ám chỉ sự sùng đạo Phật của Trần Quý Thường vừa tả tiếng hét lớn của Liễu thị. Còn chữ “Hà Đông” là dựa theo câu thơ sau của thi sĩ Đỗ Phủ đời Đường: “Hà Đông nữ nhi thân tính Liễu” (nghĩa là “người con gái đất Hà Đông họ Liễu”). Vì vợ Trần Quý Thường cũng họ Liễu nên Tô Đông Pha mới gọi là “sư tử Hà Đông”.

Về sau, người đời vẫn dùng cụm từ “sư tử Hà Đông” để chỉ người đàn bà hung dữ. Cách nói này cũng khá phổ biến trong tiếng Việt.

Trong tiếng Anh, từ “tigress” ngoài nghĩa đen là “cọp cái” còn có nghĩa bóng là “người đàn bà hung dữ”, có thể dùng tương đương với thành ngữ “sư tử Hà Đông”.
 
7.2008 

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2010

Tản mạn về thành ngữ: "Được voi đòi tiên"

"Được voi đòi tiên" là câu thành ngữ khá thông dụng trong nhiều ngôn ngữ, nhằm chỉ thái độ tham lam, được thứ này rồi lại còn muốn thứ khác tốt hơn, hay hơn. Tìm hiểu xuất xứ của câu thành ngữ này, ta biết thêm nhiều điều thú vị.

Trong tiếng Việt, câu thành ngữ này bắt nguồn từ một thứ đồ chơi dân gian của trẻ con: đó là những con giống nặn bằng bột có nhiều màu sắc, thường được gọi là tò he. Những con giống này rất đa dạng: voi, gà, vịt, trâu, bò, mâm ngũ quả, cậu bé chăn trâu, tiên (ông tiên hoặc cô tiên)... Thường thì trong số những con giống được bày bán ở chợ quê, voi là loại phổ biến nhất, khá rẻ tiền, trong khi đó tiên hiếm hơn và có giá cao hơn. Vì vậy các em nhỏ sau khi được cha mẹ mua voi thường vòi vĩnh thêm tiên. Câu "được voi đòi tiên" ban đầu chỉ sự vòi vĩnh của con trẻ, về sau trở thành một câu thành ngữ mang nghĩa rộng hơn là đã được thứ này lại đòi thêm thứ khác tốt hơn.

Trong tiếng Hán, câu thành ngữ mang nghĩa tương đương với "được voi đòi tiên" là "đắc Lũng vọng Thục" (được đất Lũng lại mong đất Thục).
Đọc truyện Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần, thấy đến đoạn Hương Lăng nhờ Bảo Thoa xin mẹ cho vào ở cùng với cô trong Hành Vu Uyển, Bảo Thoa đồng ý; Hương Lăng được thể bảo rằng khi nào vào đấy sẽ nhờ Bảo Thoa dạy làm thơ, Bảo Thoa mới cười mà nói: "Chị thật là được đất Lũng lại mong đất Thục".

Vậy câu thành ngữ này có xuất xứ từ đâu?

Lũng là vùng đất phía Đông tỉnh Cam Túc còn Thục là vùng đất phía Tây tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày nay. Chuyện kể rằng Sầm Bành là một đại tướng thời Đông Hán, đã lập được rất nhiều chiến công, giúp Lưu Tú bình định thiên hạ. Khi Lưu Tú xưng đế, Sầm Bành rất được trọng vọng và được phong làm đại tướng quân sự. Sau đó, Lưu Tú cho quân tấn công Lạc Dương thành nhưng tướng giữ thành này là Châu Vĩ quá giỏi, đội quân hùng hậu của Lưu Tú tấn công mấy tháng trời vẫn không chiếm được. Biết Sầm Bành có thời là hiệu úy của Châu Vĩ, Lưu Tú bảo Sầm Bành khuyên Châu Vĩ hàng. Châu Vĩ biết quân mình đã vào thế sơn cùng thủy tận nhưng vẫn không muốn hàng vì xưa kia đã từng tham gia sát hại anh trai Lưu Tú, nay sợ bị trả thù. Sầm Bành bèn chuyển lời hứa của Lưu Tú là sẽ trọng dụng Châu Vĩ. Châu Vĩ vẫn không tin, cho người hạ sợi dây thừng xuống bảo Sầm Bành là nếu có thành ý thì hãy lên thành nói chuyện. Sầm Bành không hề do dự leo lên, Châu Vĩ lúc ấy mới tin và chịu hàng, quả nhiên được Lưu Tú tự tay cởi trói và phong làm Bình Định tướng quân. Trong chiến công Lạc Dương thành, Sầm Bành được xét công đầu.

Sau này, Lưu Tú lại đem Sầm Bành tấn công thành Quỹ Ngao của Tây Lương. Sau khi hạ lệnh cho các tướng khác vây thêm thành Thượng Quê, Lưu Tú quay về Lạc Dương rồi viết thư chỉ đạo Sầm Bành: "Sau khi chiếm được hai thành thì lập tức dẫn quân chiếm Tứ Xuyên. Lòng người khó mà thỏa mãn được, chúng ta đã bình định được Cam Túc (Lũng), lại muốn tấn công Tứ Xuyên (Thục), có lẽ con người đều tham lam không biết thế nào là đủ là như vậy đó".

Đáng tiếc là lần này quân của Sầm Bành đã thất bại vì thiếu lương thực, sau đó Sầm Bành lại bị thích khách giết chết khi đem quân chinh phạt Công Tôn Thuật (lúc bấy giờ đã gần thắng lợi), làm Lưu Tú thương tiếc mãi không nguôi.

Từ điển tích này mà người Trung Quốc có câu "Đắc Lũng vọng Thục".

Trong tiếng Anh, câu thành ngữ có nghĩa tương đương với "được voi đòi tiên" là "Appetite Comes with Eating".
 
7.2008 

Tản mạn về thành ngữ: "Đàn gảy tai trâu"

Tiếng Việt có một kho thành ngữ phong phú và đầy hình ảnh, nhiều câu bắt nguồn từ những câu chuyện, điển tích rất thú vị. Mình may mắn được đọc khá nhiều tài liệu về những câu thành ngữ tiếng Việt nên cũng xin tản mạn một chút để chúng ta hiểu sâu hơn về ý nghĩa cũng như bối cảnh vận dụng thành ngữ đó.

Trước hết là một câu thành ngữ rất quen thuộc: “đàn gảy tai trâu”.


Câu thành ngữ “đàn gảy tai trâu” nhằm ngụ ý rằng đưa điều hay ho tốt đẹp đến với đối tượng không có khả năng thưởng thức và cảm thụ thì cũng chỉ phí công vô ích mà thôi.

Câu thành ngữ này bắt nguồn từ tiếng Hán: “Đối ngưu đàn cầm”. Chuyện rằng xưa có một người tên là Công Minh Nghĩa rất tinh thông nhạc lý và chơi đàn rất hay. Một ngày nọ, ông ta đang dạo chơi thì nhìn thấy một đàn trâu gặm cỏ. Tức cảnh sinh tình, ông đàn khúc “Thanh giác chi tao” – một bản nhạc vô cùng cao nhã. Tiếng đàn của Công Minh Nghĩa rất hay, nhưng lũ trâu vẫn bình thản gặm cỏ khiến ông rất bực. Sau khi quan sát thì ông nhận thấy không phải lũ trâu không nghe được mà vì khả năng cảm thụ âm nhạc của chúng rất kém. Ông bèn đàn một giai điệu quen thuộc thì chúng ngừng gặm cỏ và dỏng tai lên.

Đến cuối đời Đông Hán, một người thông tuệ tên là Mâu Dung đã kể lại câu chuyện này cho các học trò Nho gia sau khi dùng những triết lí cao siêu để giảng Kinh Phật mà họ cứ ngơ ngác. Từ đó “đàn gảy tai trâu” trở thành một câu thành ngữ, được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay.

Một số ý kiến cho rằng thành ngữ "đàn gảy tai trâu" có nghĩa tương tự với thành ngữ "nước đổ lá khoai", nhưng mình không thấy như vậy. Hai thành ngữ này tuy cùng chỉ một hành động phí công vô ích, nhưng nghĩa khác nhau và cũng được dùng trong các bối cảnh khác nhau. "Nước đổ lá khoai" (có nơi nói "nước đổ lá môn") hay "nước đổ đầu vịt" mới đồng nghĩa, ý nói những lời khuyên răn, dạy bảo chẳng có tác dụng gì, cũng như nước rơi vào lá khoai hay lông vịt thì cũng trôi tuột đi, không thấm ướt. Khi nói đến một đứa trẻ bướng bỉnh, bất trị, mọi lời dạy dỗ đều vô ích thì ta dùng "nước đổ lá khoai"/ "nước đổ đầu vịt", còn khi nói đến trường hợp đem thứ cao siêu ra nói với một kẻ tầm thường không có khả năng nắm bắt thì dùng "đàn gảy tai trâu".

Trong tiếng Anh, câu thành ngữ tương đương với "nước đổ đầu vịt" là "water off a duck's back", còn câu thành ngữ tương đương với “đàn gảy tai trâu” là “cast pearls before swine”. Nghĩ cũng đúng thật, ngọc mà đem bày trước mặt heo thì đâu có nghĩa lý gì.

2.3.2008

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010

Bàn về chính tả tiếng Việt

Nhân WTT đang có một cuộc tranh luận sôi nổi về chính tả tiếng Việt, hôm nay chủ nhật rảnh rỗi, mình cũng xin có một bài viết về vấn đề này. Tất nhiên mình không phải là nhà ngôn ngữ học, nhưng do hoạt động khá nhiều trong lĩnh vực báo chí và ngôn ngữ nên cũng muốn có đôi dòng bàn luận cho vui.

Tiến sĩ ngôn ngữ học Phạm Văn Tình (viện Ngôn ngữ học) viết như thế này: “Chính tả là một vấn đề vừa mang tính quy tắc, nhưng cũng lại là vấn đề thuộc về thói quen, thuộc phạm trù văn hóa.” Chính vì thế, trừ những cách viết chính tả phân biệt đúng/sai rõ ràng, thì có một số trường hợp viết như thế nào cho đúng vẫn là vấn đề gây nhiều tranh cãi, VD: “chia sẻ” hay “chia xẻ”, “i ngắn” hay “y dài”, “dông” hay “giông”…

Sau một quá trình thường xuyên tiếp xúc với thứ tiếng Việt lưu hành trên văn bản, báo chí, từ điển… thì mình có kết luận về cặp “chia sẻ”/ “chia xẻ” như thế này:

“Chia sẻ” và “chia xẻ” đều là những từ đúng trong tiếng Việt, nhưng ý nghĩa có khác nhau nên được sử dụng trong những ngữ cảnh khác nhau. “Sẻ” ở đây là san sẻ, từ “chia sẻ” thường được dùng khi nói đến sự đồng cảm và san sẻ một nỗi niềm, một trạng thái tinh thần, VD: chia sẻ niềm vui nỗi buồn. “Xẻ” nghĩa là cắt xẻ, chia ra làm nhiều phần, VD: chia năm xẻ bảy.

Cũng có ý kiến cho rằng từ “chia sẻ” dùng để chỉ thứ trừu tượng (chia sẻ tình cảm) còn “chia xẻ” dùng cho thực thể (xẻ đất, xẻ gỗ), tuy nhiên mình thấy điều đó chỉ đúng với đa số trường hợp chứ không phải là tất cả. Mình vẫn bảo lưu ý kiến dùng “chia sẻ” hay “chia xẻ” là tùy theo ngữ nghĩa. Chẳng hạn như cùng nói đến một thứ trừu tượng là “quyền lực”, nhưng “chia sẻ quyền lực” lại có nghĩa nhường bớt quyền lực của mình cho người khác, trong khi “chia xẻ quyền lực” nghĩa là phân tách quyền lực, mang tính vị kỷ hơn nhiều. Hay như trong trường hợp “nhường cơm sẻ áo” thì dù chiếc áo là thực thể, nhưng nghĩa ở đây là san sẻ chứ không phải xẻ cái áo làm đôi nên không viết “nhường cơm xẻ áo”. Tất nhiên nếu ai bảo tôi cứ xẻ cái áo làm đôi đem cho một nửa hoặc đem bán thì lại là chuyện khác, nhưng nó lại không mang nghĩa của câu nói đã được xếp vào danh sách các thành ngữ tiếng Việt.

Từ “dông” và “giông” (theo nghĩa chỉ hiện tượng thời tiết) thì mình thấy cả hai đều được sử dụng rất nhiều trên các văn bản chính thức và đều được chấp nhận là cách viết đúng. Tác phẩm “Giông tố” của cụ Vũ Trọng Phụng – người được mệnh danh là “ông vua phóng sự đất Bắc” – được tái bản rất nhiều lần. Tuy nhiên, khi tra Từ điển Tiếng Việt thì cách viết đúng phải là “dông”.

Lại có ý kiến tranh cãi nên viết “i” hay “y”. Đây quả là một câu chuyện tốn nhiều bút mực. Theo “Quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục” của Bộ Giáo dục và Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam thì có một số quy tắc về viết “i" và “y” như sau:

- Nguyên âm trong các âm tiết mở, theo quy định là phải viết i ngắn: kĩ (thuật), lí (thuyết), mĩ (thuật), hi (vọng), (nghệ) sĩ...

- Nguyên âm đứng một mình (âm tiết độc lập) thì sẽ viết i ngắn nếu là từ thuần Việt : ỉ (eo), ì (à) ì (ạch), (béo) ị, (ầm) ĩ,... và y dài, nếu là từ Hán Việt: ý (kiến), (lưu) ý, y (sĩ), (chuẩn) y...

- Nguyên âm đứng đầu âm tiết, có tổ hợp nguyên âm hoặc nguyên âm đôi, viết y dài: yêu (quý), yểu (điệu), yến (tiệc), yêng (hùng), huỳnh huỵch...

- Trong các âm tiết nửa mở, có nhiều trường hợp thể hiện bằng hai con chữ i, y nhưng thực chất có sự khác biệt (do sự nhầm lẫn chính tả). Nếu là tổ hợp nguyên âm [wi], như trong các từ quy (tắc), (thâm) thúy, (ma) túy, (xương) tủy, quỵ lụy... thì viết y dài. Nếu là tổ hợp nguyên âm [uj], như trong các từ cúi (đầu), túi (quần), tủi (hổ), xúi (bẩy), (tàn) lụi... thì viết i ngắn.

Quy định này được áp dụng cho các sách giáo dục và từ điển tiếng Việt. Thế nhưng, quay trở lại vấn đề thói quen ngôn ngữ và văn hóa mà TS Phạm Văn Tình đã đề cập, trong nhiều trường hợp cả “i” và “y” vẫn đều được chấp nhận là cách viết đúng, đặc biệt là tên riêng thì dù không đúng với chuẩn mực vẫn cần được tôn trọng. Chính GS Nguyễn Lân Dũng từng nói rằng ông đã viết quen những từ như “kỹ thuật”, “lý thuyết”…, bây giờ mà sửa lại thấy khó quá. Bản thân chúng ta, với tâm lý sử dụng ngôn ngữ theo thói quen, đôi khi là theo sự thuận tiện, cảm thấy những từ kiểu như thế này mà dùng “i ngắn” trông cứ ngường ngượng thế nào. Chuyện dùng “i” hay “y” cũng từng được bàn luận khá hay trên tạp chí “Ngôn ngữ & Đời sống”.

Về cách sử dụng các âm tiết CH/TR, S/X, D/GI/R, Hoàng Phê (chủ biên cuốn “Từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học đã tái bản lần thứ tám”) đã có một bài viết khá hay trong cuốn “Chính tả Tiếng Việt”, nêu bật một số quy tắc chính tả thông dụng.

Nói chuyện chính tả thì chẳng bao giờ cho hết, và nó đã luôn là vấn đề “thời sự” từ khi ông A. de Rhodes lập ra chữ Quốc ngữ đến nay. Tranh luận về chuyện này cũng vỡ lẽ ra nhiều điều, hẹn khi khác lại bàn thêm cho vui vậy.

2.2008