Thứ Tư, 8 tháng 9, 2010

Sam biển - mặt trời bé con

Loài hoa này có tên là "sam biển" (ngoài hàng hoa vẫn gọi là "sam Thái"), tên khoa học là Aptenia cordifolia. Còn trong tiếng Anh, nó được gọi bằng một cái tên rất dễ thương: Baby sun rose. Vì thế mà mình xem những bông hoa này là mặt trời bé con.

Sam biển rất dễ trồng, cũng như hoa mười giờ và các loài sam khác, chỉ cần cắm một cành xuống đất là cây tự đâm rễ, trưởng thành và trổ bông. Lá hoa đẹp, hoa nở nhiều, chỉ bé chưa bằng đồng xu, thường có các màu đỏ, hồng, cam. Cây không cần chăm sóc gì đặc biệt, chỉ trồng nơi sáng và tưới nước đều.


Tản mạn về thành ngữ: "Sư tử Hà Đông"

Ngày nay, cụm từ “sư tử Hà Đông” phổ biến đến nỗi thoạt nghe ai cũng biết nó ám chỉ một người đàn bà hung dữ, ghen tuông, đặc biệt là trong quan hệ vợ chồng. Vậy câu thành ngữ này có xuất xứ từ đâu?

Một số người nhầm lẫn từ “Hà Đông” ở đây là một địa danh của miền Bắc nước ta. Thực ra câu thành ngữ này bắt nguồn từ tiếng Hán, chính xác hơn là từ một bài thơ của thi sĩ Tô Đông Pha đời Tống.

Tích xưa kể rằng Trần Quý Thường (hiệu là Long Khâu cư sĩ) – bạn của Tô Đông Pha – là một người sùng đạo Phật và rất sợ vợ. Vợ của Trần Quý Thường là Liễu thị, vốn có tiếng ghen tuông, hung hãn, mỗi lần quát chồng thì tiếng hét của bà ta làm chồng run rẩy, rơi cả gậy thiền. Lúc bấy giờ Tô Đông Pha đang bị đi đày ở Hoàng Châu, rất thiếu thốn cơ cực, có viết bài thơ sau gửi bạn mình để cười cái thân phận khổ lụy của hai người:

“Đông Pha tiên sinh vô nhất tiền
Thập niên gia hỏa thiêu phàm duyên
Hoàng kim khả thành hà khả tắc
Chỉ hữu sương bính vô do huyền
Long Khâu cư sĩ diệc khả liên
Đàm Không thuyết Hữu dạ bất miên
Hốt văn sư tử Hà Đông hống
Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên"

(Đông Pha tiên sinh không một tiền
Mười năm đèn lửa xin hai bên
Hoàng kim làm được sông lấp được
Chỉ có tóc sương không chịu đen
Long Khâu cư sĩ cũng vô duyên
Bàn Không bàn Có thức suốt đêm
Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống
Hốt hoảng tâm thần rơi gậy thiền)

Bài thơ thể hiện lối ví von đầy ẩn ý thâm nho của Tô Đông Pha. Nguyên cụm từ “sư tử hống” bắt nguồn từ một pháp môn của nhà Phật: tương truyền Phật tổ sinh ra là đã nói được ngay, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, tiếng vang như sư tử gầm đánh động tâm thức người phàm để họ giác ngộ. Tô Đông Pha dùng cụm từ này vừa để ám chỉ sự sùng đạo Phật của Trần Quý Thường vừa tả tiếng hét lớn của Liễu thị. Còn chữ “Hà Đông” là dựa theo câu thơ sau của thi sĩ Đỗ Phủ đời Đường: “Hà Đông nữ nhi thân tính Liễu” (nghĩa là “người con gái đất Hà Đông họ Liễu”). Vì vợ Trần Quý Thường cũng họ Liễu nên Tô Đông Pha mới gọi là “sư tử Hà Đông”.

Về sau, người đời vẫn dùng cụm từ “sư tử Hà Đông” để chỉ người đàn bà hung dữ. Cách nói này cũng khá phổ biến trong tiếng Việt.

Trong tiếng Anh, từ “tigress” ngoài nghĩa đen là “cọp cái” còn có nghĩa bóng là “người đàn bà hung dữ”, có thể dùng tương đương với thành ngữ “sư tử Hà Đông”.
 
7.2008 

Hoa thạch nam vàng

Hoa thạch nam, còn được gọi là thạch thảo, chính là loài hoa nổi tiếng trong câu hát của Phạm Duy phỏng từ thơ của Guillaume Appolinaire: "Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo".

Loài hoa trong bài thơ vốn có màu tím, còn ở đây là thạch nam vàng: lộng lẫy và thanh tao.




-----------------------------
Tên khoa học: Calluna vulgaris
Tên phổ thông: Thạch nam, thạch thảo, thạch thảo chổi
Tên tiếng Anh: Heather
Họ: Ericaceae (Đỗ quyên)

Đường về thiền viện

Đã quen sống ở Sài Gòn xô bồ nhộn nhịp, một ngày nọ chợt thấy lòng tĩnh lặng, muốn đi một chốn nào thanh vắng, đẹp và thơ để vừa thưởng thức vừa tĩnh tâm, tôi tìm đến miền Trung thơ mộng với một ngôi chùa tuổi đời còn rất trẻ nhưng có phong cảnh thiên nhiên cực kỳ tươi đẹp: thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã.

Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã là một ngôi chùa thuộc phái Trúc Lâm Yên Tử, tọa lạc trên một ngọn đồi của vùng núi rừng Bạch Mã, phía trước là hồ nước xanh như ngọc, trong đến mức thấy sỏi cát dưới đáy hồ. Cảnh sắc nơi đây quả là sơn thủy hữu tình, đem đến cho khách hành hương cái cảm xúc rất lạ giữa một không gian núi non trùng điệp trong thoáng bình yên chim hót, nước thì mênh mang màu trời hòa lẫn cỏ cây, mát như giọt sương mai buổi sớm, tách khỏi chốn trần gian bụi bặm đời thường.


Tôi đến với thiền viện vào một ngày nắng, theo xe đi về phía Nam của mảnh đất thần kinh, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 30km. Rời khỏi quốc lộ là một con đường nhỏ mang chút thi vị của lũy tre làng xanh ngắt ven sông, tuy chưa đến bao giờ mà sao vương vấn một phút giây hoài cổ:

Ừ nhỉ, hồn quê soi bóng nước
Chạnh lòng thương nhớ bạn bè xưa

Xứ này vốn dĩ mang một cái tên không được mĩ miều cho lắm: Truồi. Ấy vậy mà sông Truồi, hồ Truồi, núi Truồi, đất Truồi đều mang nét đẹp sống động và nên thơ, lắng trong lòng bao du khách một cảm giác bâng khuâng với mây trời bát ngát, cây trái xanh tươi, nước trong sóng sánh, ngay đến đồ ăn thức uống cũng đậm đà lưu luyến khách đường xa… Qua khỏi đập Truồi là hồ nước trong vắt như một mảnh ngọc lam giữa núi rừng. Tôi choáng ngợp trước cảnh núi gối đầu mây trắng và những hòn đảo nhỏ đậm sắc cây nổi giữa hồ xanh.

Cái thú vị của cuộc hành trình có lẽ là chuyến đi thuyền hoặc phà khoảng 10 phút qua hồ để đến thiền viện. Đó là giây phút cực kỳ thư giãn khi thấy mình lọt thỏm giữa núi rừng, dưới chân là nước lững lờ trôi, gió lồng lộng thổi tung mái tóc và xa xa thiền viện lấp ló sau con đường quanh co bên chân núi. 172 bậc tam cấp lên cổng Tam Quan không làm khách hành hương mệt mỏi, bởi đâu đây là tiếng suối reo chim hót giữa đất trời mênh mông, và từ trên cao nhìn xuống thấy cảnh nước non đẹp chẳng khác nào một bức tranh thủy mặc.


Hồ Truồi - trong veo đáy mắt mùa thu
Thiền viện lấp ló sau rừng cây
Những hòn đảo ngọc
Hồ Truồi lúc hoàng hôn
Đường lên cổng Tam Quan

Thiền viện được xây theo lối kiến trúc tương tự những ngôi chùa dòng pháp thiền phái Trúc Lâm. Qua khỏi cổng Tam Quan, nhìn sang hai bên là lầu chuông và lầu trống, phía trước là chính điện với tượng Phật Bổn Sư Thích Ca bên trong. Nếu như từ lầu chuông nhìn ra là những rặng núi chìm trong mây ôm lấy hồ nước trong xanh thì từ lầu trống có thể thấy cảnh lá hoa và vườn lan thơ mộng.

Một góc sân chùa
Lầu chuông
Chính điện
Tĩnh lặng giữa núi rừng
Một góc chùa

Nếu một ngày nào đó bạn muốn lòng bình yên, thay vì một chuyến du lịch về nơi phố thị xa hoa, sao không tìm đến thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã mà hòa mình với cảnh trời mây non nước? Đến vùng Truồi, bạn còn có dịp thưởng thức một đặc sản nổi tiếng: bánh ướt thịt heo quay. Muốn vui chơi nhiều hơn thì có thể đi thuyền tắm thác Nhị Hồ và chơi rừng nguyên sinh, ngắm những con đường mòn đầy hoa mua và sim tím, hay lên đỉnh Bạch Mã nhìn xuống vùng Truồi xanh mướt uốn lượn quanh co, trèo thác Đỗ Quyên nên thơ và kỳ ảo. Nói đến đây lại nghe lòng nhớ. Xuân đã về rồi – cái mùa mà hoa đỗ quyên nở đỏ rực như thảm nhung hai bên vách núi, ôm lấy dòng thác trắng xóa cuồn cuộn chảy từ phía đỉnh trời, chợt thấy mình bé nhỏ làm sao trước thiên nhiên hùng vĩ.

Bài viết đã đăng trên tạp chí Jobvietizens tháng 1-2009

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010

Những ánh sao xuân

Hoa có tên là ngũ tinh, trông như những ngôi sao năm cánh nở từng chùm với nhiều màu rực rỡ: đỏ, hồng, trắng.

Đây là hình hoa ngũ tinh mình chụp tại công viên Tao Đàn.



----------------------------
Tên khoa học: Pentas lanceolata Schum
Tên phổ thông: Ngũ tinh, diễn chân, cúc nữ hoàng, nữ hoàng Ai Cập
Tên tiếng Anh: Egyptian star, star cluster
Họ: Rubiaceae
Xuất xứ: Châu Phi

Thơ cho ngày bé

Những bài thơ viết cho con những ngày bé thơ.

NHỮNG NGÓN TAY XINH

Những ngón tay xinh
Mẹ nâng niu mãi
Đây là ngón cái
To khỏe nhất nhà
Kiêu hãnh bước ra
Ái chà, oai thế.

"Còn em tuy bé
Nhưng lại đáng yêu
Ngón út mĩ miều
Ai mà không thích?"
"Tôi đây có ích
Khéo léo giỏi giang
Ngón trỏ hiền ngoan
Làm bao việc tốt."

Ngón giữa sốt ruột:
"Tớ là anh hào
Dáng người cao cao
Chỉ huy cả bọn"

Chỉ còn một ngón
Khe khẽ mỉm cười:
"Tôi vốn xinh tươi
Để dành đeo nhẫn."

THI LÁU

Ve vẻ vè ve
Nghe vè Thi láu
Trông thì cũng kháu
Mỗi tội lười ăn
Cái mặt nhăn nhăn
Khi mẹ đút sữa
Thấy ba mở cửa
Miệng toét ra cười
Thích nghịch, thích chơi
Chỉ ăn là biếng.

MỌC RĂNG

"Bạn răng thân mến
Tớ giận bạn rồi
Đang khỏe, vui chơi
Bạn làm tớ sốt"

Ứ ừ..

"Tôi là bạn tốt
Cô bé biết không?
Môi cô hồng hồng
Có thêm răng trắng
Nụ cười xinh xắn
Ai cũng thấy yêu
Tôi giúp cô nhiều
Nhai cơm thật kỹ
Cô cứ yên chí
Sẽ khỏe ngay thôi"

"Răng thân yêu ơi
Cảm ơn bạn nhé
Bây giờ tớ khỏe
Bốn chiếc răng xinh
Tớ cười một mình
Mẹ yêu lắm lắm"

BA BA, MA MA

Ba ba, ma ma
Con gọi ba
Con gọi mẹ
Sao yêu thế
Miệng như hoa.

Đây là ba
Có đôi tay
Vững chắc
Có đôi mắt
Sáng ngời
Có nụ cười
Trìu mến…

Đây là mẹ
Có dòng sữa
Ngọt thơm
Có nụ hôn
Êm ái
Có giọng nói
Dịu dàng…

Con bập bẹ
Con nằm chơi
Nụ cười tươi
Yêu yêu quá.

Ba ba, ma ma…

Chè Huế

Đã đến Huế thì phải ăn ...

Tôi biết nhiều bạn sẽ điền vào cái dấu ba chấm kia hai từ "chè Huế". Đúng vậy, chè Huế là món ăn chơi nổi tiếng khắp ba miền, hòa quyện cả nét văn hóa ẩm thực dân gian lẫn cung đình. Chè Huế có hàng chục loại, loại nào cũng có hương vị riêng, hiện diện từ gánh hàng rong cho đến nhà hàng đãi tiệc hoàng gia.

Kể ra không cần phải đến mùa sen mới được ăn chè sen, vì hạt sen khô được xâu chuỗi như tràng hạt, có thể nấu chè bất cứ lúc nào, nhưng ăn hạt sen tươi vẫn có hương vị riêng của nó. Sen Huế nồng nàn từ chớm hạ đến tận sang thu, phảng phất hương thơm trong những tách trà, món ăn, bánh mứt và dĩ nhiên cả chè. Hạt sen hấp chín nấu với đường phèn tạo ra thứ chè dịu ngọt và thanh tao. Sang hơn là chè long nhãn hạt sen, nghĩa là hạt sen được bọc trong nhãn lồng, ăn ngon nhưng khá cầu kỳ, kiểu cách. Để tạo ra ly chè có vị đặc trưng của xứ Huế, thì sen phải dùng sen hồ Tịnh Tâm, nhãn cũng phải là nhãn lồng Huế trồng ở Bắc sông Hương, và dùng đường phèn thay cho đường cát.

Tôi nhớ ngày còn bé, mỗi lần đi chợ về thế nào mẹ cũng mua cho tôi những bịch chè đậu ván hay bột lọc bọc dừa. Ở nhà thỉnh thoảng cũng nấu chè đậu xanh, đậu đen, đậu ngự... Đến những quán chè Huế, nhìn thực đơn dài dằng dặc mà quả thật không biết chọn món gì, vì mỗi thứ chè có một cái hay riêng, bỏ cái nào cũng tiếc mà ăn nhiều thì bao tử không cho phép. Chè bột lọc bọc heo quay có vị beo béo là lạ mà không ngán, chè thập cẩm đậm đà và nhiều hương vị, chè trái cây thanh dịu, chè khoai môn thơm và ngon mắt, chè trôi nước ngọt bùi... Đến thứ chè đậu tưởng là bình dân mà cũng vô cùng phong phú: chè đậu ngự, chè đậu trắng, chè đậu xanh (xanh đánh, xanh dừa, bông cau), chè đậu đỏ, chè đậu đen, chè đậu quyên, chè đậu ván...
Ngay cả trong những trưa hè oi ả, đường về thôn Vỹ vẫn tung bay những tà áo trắng ghé vào Cồn ăn ly chè bắp non ngậm sữa mà ngắm "dòng nước buồn thiu hoa bắp lay", hay tạt ngang những quán chè dưới giàn hoa thơm nằm rải rác khắp các nẻo đường thành phố. Cái thuở tôi còn học cấp 1, cấp 2, thì chè Hẻm ở đường Hùng Vương luôn là lựa chọn số 1. Lên cấp 3, lũ bạn rủ nhau đi ăn chè đường Trương Định, sau này còn có chè Tý ở đường Trần Phú mà giới trẻ vẫn gọi là chè TÌNH YÊU, cả chè Cung đình ở đường Nguyễn Huệ... Xa Huế đã lâu nên có lẽ tôi không cập nhật được hết những quán chè ngon mới nổi, nhưng hương vị chè thì không thể nào quên.

Tôi chắc rằng những người Huế xa xứ ai cũng thấy lòng vương vấn khi nghe nhắc đến từ "chè Huế", bởi đó là tiếng vọng của tuổi thơ bên những gánh chè rong thơm phức với những đôi mắt trong veo long lanh niềm vui con trẻ, là ký ức ngọt ngào về một tuổi thanh niên rong xe qua các nẻo đường, ăn với bạn bè, người yêu vài ba ly chè và tán chuyện gẫu, là những nụ cười hồn hậu cùng bàn tay múc chè thật khéo của cô chủ quán, đọng lại trong lòng một chút bùi ngùi nhung nhớ. Đi vào Nam ra Bắc hay vượt trùng dương, vị chè Huế ngọt ngào quyến rũ, vừa đậm đà vừa thanh tao vẫn luôn là tiếng gọi của tình yêu.
3.2009