Hiển thị các bài đăng có nhãn Đi và cảm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đi và cảm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 8 tháng 9, 2010

Đường về thiền viện

Đã quen sống ở Sài Gòn xô bồ nhộn nhịp, một ngày nọ chợt thấy lòng tĩnh lặng, muốn đi một chốn nào thanh vắng, đẹp và thơ để vừa thưởng thức vừa tĩnh tâm, tôi tìm đến miền Trung thơ mộng với một ngôi chùa tuổi đời còn rất trẻ nhưng có phong cảnh thiên nhiên cực kỳ tươi đẹp: thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã.

Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã là một ngôi chùa thuộc phái Trúc Lâm Yên Tử, tọa lạc trên một ngọn đồi của vùng núi rừng Bạch Mã, phía trước là hồ nước xanh như ngọc, trong đến mức thấy sỏi cát dưới đáy hồ. Cảnh sắc nơi đây quả là sơn thủy hữu tình, đem đến cho khách hành hương cái cảm xúc rất lạ giữa một không gian núi non trùng điệp trong thoáng bình yên chim hót, nước thì mênh mang màu trời hòa lẫn cỏ cây, mát như giọt sương mai buổi sớm, tách khỏi chốn trần gian bụi bặm đời thường.


Tôi đến với thiền viện vào một ngày nắng, theo xe đi về phía Nam của mảnh đất thần kinh, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 30km. Rời khỏi quốc lộ là một con đường nhỏ mang chút thi vị của lũy tre làng xanh ngắt ven sông, tuy chưa đến bao giờ mà sao vương vấn một phút giây hoài cổ:

Ừ nhỉ, hồn quê soi bóng nước
Chạnh lòng thương nhớ bạn bè xưa

Xứ này vốn dĩ mang một cái tên không được mĩ miều cho lắm: Truồi. Ấy vậy mà sông Truồi, hồ Truồi, núi Truồi, đất Truồi đều mang nét đẹp sống động và nên thơ, lắng trong lòng bao du khách một cảm giác bâng khuâng với mây trời bát ngát, cây trái xanh tươi, nước trong sóng sánh, ngay đến đồ ăn thức uống cũng đậm đà lưu luyến khách đường xa… Qua khỏi đập Truồi là hồ nước trong vắt như một mảnh ngọc lam giữa núi rừng. Tôi choáng ngợp trước cảnh núi gối đầu mây trắng và những hòn đảo nhỏ đậm sắc cây nổi giữa hồ xanh.

Cái thú vị của cuộc hành trình có lẽ là chuyến đi thuyền hoặc phà khoảng 10 phút qua hồ để đến thiền viện. Đó là giây phút cực kỳ thư giãn khi thấy mình lọt thỏm giữa núi rừng, dưới chân là nước lững lờ trôi, gió lồng lộng thổi tung mái tóc và xa xa thiền viện lấp ló sau con đường quanh co bên chân núi. 172 bậc tam cấp lên cổng Tam Quan không làm khách hành hương mệt mỏi, bởi đâu đây là tiếng suối reo chim hót giữa đất trời mênh mông, và từ trên cao nhìn xuống thấy cảnh nước non đẹp chẳng khác nào một bức tranh thủy mặc.


Hồ Truồi - trong veo đáy mắt mùa thu
Thiền viện lấp ló sau rừng cây
Những hòn đảo ngọc
Hồ Truồi lúc hoàng hôn
Đường lên cổng Tam Quan

Thiền viện được xây theo lối kiến trúc tương tự những ngôi chùa dòng pháp thiền phái Trúc Lâm. Qua khỏi cổng Tam Quan, nhìn sang hai bên là lầu chuông và lầu trống, phía trước là chính điện với tượng Phật Bổn Sư Thích Ca bên trong. Nếu như từ lầu chuông nhìn ra là những rặng núi chìm trong mây ôm lấy hồ nước trong xanh thì từ lầu trống có thể thấy cảnh lá hoa và vườn lan thơ mộng.

Một góc sân chùa
Lầu chuông
Chính điện
Tĩnh lặng giữa núi rừng
Một góc chùa

Nếu một ngày nào đó bạn muốn lòng bình yên, thay vì một chuyến du lịch về nơi phố thị xa hoa, sao không tìm đến thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã mà hòa mình với cảnh trời mây non nước? Đến vùng Truồi, bạn còn có dịp thưởng thức một đặc sản nổi tiếng: bánh ướt thịt heo quay. Muốn vui chơi nhiều hơn thì có thể đi thuyền tắm thác Nhị Hồ và chơi rừng nguyên sinh, ngắm những con đường mòn đầy hoa mua và sim tím, hay lên đỉnh Bạch Mã nhìn xuống vùng Truồi xanh mướt uốn lượn quanh co, trèo thác Đỗ Quyên nên thơ và kỳ ảo. Nói đến đây lại nghe lòng nhớ. Xuân đã về rồi – cái mùa mà hoa đỗ quyên nở đỏ rực như thảm nhung hai bên vách núi, ôm lấy dòng thác trắng xóa cuồn cuộn chảy từ phía đỉnh trời, chợt thấy mình bé nhỏ làm sao trước thiên nhiên hùng vĩ.

Bài viết đã đăng trên tạp chí Jobvietizens tháng 1-2009

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010

Chè Huế

Đã đến Huế thì phải ăn ...

Tôi biết nhiều bạn sẽ điền vào cái dấu ba chấm kia hai từ "chè Huế". Đúng vậy, chè Huế là món ăn chơi nổi tiếng khắp ba miền, hòa quyện cả nét văn hóa ẩm thực dân gian lẫn cung đình. Chè Huế có hàng chục loại, loại nào cũng có hương vị riêng, hiện diện từ gánh hàng rong cho đến nhà hàng đãi tiệc hoàng gia.

Kể ra không cần phải đến mùa sen mới được ăn chè sen, vì hạt sen khô được xâu chuỗi như tràng hạt, có thể nấu chè bất cứ lúc nào, nhưng ăn hạt sen tươi vẫn có hương vị riêng của nó. Sen Huế nồng nàn từ chớm hạ đến tận sang thu, phảng phất hương thơm trong những tách trà, món ăn, bánh mứt và dĩ nhiên cả chè. Hạt sen hấp chín nấu với đường phèn tạo ra thứ chè dịu ngọt và thanh tao. Sang hơn là chè long nhãn hạt sen, nghĩa là hạt sen được bọc trong nhãn lồng, ăn ngon nhưng khá cầu kỳ, kiểu cách. Để tạo ra ly chè có vị đặc trưng của xứ Huế, thì sen phải dùng sen hồ Tịnh Tâm, nhãn cũng phải là nhãn lồng Huế trồng ở Bắc sông Hương, và dùng đường phèn thay cho đường cát.

Tôi nhớ ngày còn bé, mỗi lần đi chợ về thế nào mẹ cũng mua cho tôi những bịch chè đậu ván hay bột lọc bọc dừa. Ở nhà thỉnh thoảng cũng nấu chè đậu xanh, đậu đen, đậu ngự... Đến những quán chè Huế, nhìn thực đơn dài dằng dặc mà quả thật không biết chọn món gì, vì mỗi thứ chè có một cái hay riêng, bỏ cái nào cũng tiếc mà ăn nhiều thì bao tử không cho phép. Chè bột lọc bọc heo quay có vị beo béo là lạ mà không ngán, chè thập cẩm đậm đà và nhiều hương vị, chè trái cây thanh dịu, chè khoai môn thơm và ngon mắt, chè trôi nước ngọt bùi... Đến thứ chè đậu tưởng là bình dân mà cũng vô cùng phong phú: chè đậu ngự, chè đậu trắng, chè đậu xanh (xanh đánh, xanh dừa, bông cau), chè đậu đỏ, chè đậu đen, chè đậu quyên, chè đậu ván...
Ngay cả trong những trưa hè oi ả, đường về thôn Vỹ vẫn tung bay những tà áo trắng ghé vào Cồn ăn ly chè bắp non ngậm sữa mà ngắm "dòng nước buồn thiu hoa bắp lay", hay tạt ngang những quán chè dưới giàn hoa thơm nằm rải rác khắp các nẻo đường thành phố. Cái thuở tôi còn học cấp 1, cấp 2, thì chè Hẻm ở đường Hùng Vương luôn là lựa chọn số 1. Lên cấp 3, lũ bạn rủ nhau đi ăn chè đường Trương Định, sau này còn có chè Tý ở đường Trần Phú mà giới trẻ vẫn gọi là chè TÌNH YÊU, cả chè Cung đình ở đường Nguyễn Huệ... Xa Huế đã lâu nên có lẽ tôi không cập nhật được hết những quán chè ngon mới nổi, nhưng hương vị chè thì không thể nào quên.

Tôi chắc rằng những người Huế xa xứ ai cũng thấy lòng vương vấn khi nghe nhắc đến từ "chè Huế", bởi đó là tiếng vọng của tuổi thơ bên những gánh chè rong thơm phức với những đôi mắt trong veo long lanh niềm vui con trẻ, là ký ức ngọt ngào về một tuổi thanh niên rong xe qua các nẻo đường, ăn với bạn bè, người yêu vài ba ly chè và tán chuyện gẫu, là những nụ cười hồn hậu cùng bàn tay múc chè thật khéo của cô chủ quán, đọng lại trong lòng một chút bùi ngùi nhung nhớ. Đi vào Nam ra Bắc hay vượt trùng dương, vị chè Huế ngọt ngào quyến rũ, vừa đậm đà vừa thanh tao vẫn luôn là tiếng gọi của tình yêu.
3.2009 

Tết Sài Gòn

Phố ông Đồ
Tết Sài Gòn ư? Có gì mà nói, chán thấy mồ!

Tôi cũng từng nghĩ vậy bởi đã quá quen với không khí Tết quây quần ấm cúng trong tiết trời lạnh giá. Tôi yêu cái lạnh se sắt ngọt ngào ấy, yêu cái không khí rất cổ truyền khiến những người xa quê không khỏi chạnh lòng thương nhớ chốn xưa. Tết Sài Gòn thì quá nóng, bởi đang giữa mùa khô, nóng quá nên ai cũng ngại đi lại trong thành phố, thôi thì cứ coi như Tết là một dịp nghỉ phép dài.

Thế mà, có năm tôi đi ăn Tết ở nơi khác, chợt thấy lòng bồi hồi lưu luyến, một thoáng thẫn thờ nghĩ đến những khoảnh khắc thật đẹp của Tết Sài Gòn.

Tết Sài Gòn, đi ngang khu phố cổ – giờ là những con đường sầm uất với dãy khách sạn chạy dài – lại bắt gặp người nghệ sĩ thổi kèn góp vui cho màn ẩm thực vỉa hè sôi động. Tết Sài Gòn, tạt qua những con đường bề bộn, thấy người bán hàng lưng áo ướt đẫm mồ hôi bày từng đống dưa hấu trên tấm vải bạt lớn, tràn ra cả lề đường, rồi những dãy bao lì xì đỏ tươi tràn ngập các nẻo đường và cổng chợ.
 
Múa lân ngày Tết

Tết Sài Gòn trong mắt tôi còn là chiếc thuyền hoa duyên dáng của người bán dạo neo đậu ven kênh. Những ngày giáp Tết, từng chậu hoa kiểng được chất đầy thuyền, rồi cứ thế từng đoàn xuôi dòng kênh đùng đục đưa hoa về phố, đôi lúc đã khiến tôi bật cười với cái cảnh “trên hoa dưới rác”, vậy mà ngẫm lại vẫn thấy rất nên thơ. Nhờ Tết, Sài Gòn trong chớp mắt bỗng biến thành một “thành phố hoa” với đủ loại hoa kiểng từ khắp nơi đổ về khoe sắc trong hội xuân Tao Đàn.
 
Công viên mùa xuân

Nhưng, nếu bảo tôi tả thật ngắn gọn cái đẹp của Sài Gòn vào dịp Tết thì tôi chỉ có thể nói vỏn vẹn ba chữ: “thành phố thức” – thức cả ngày lẫn đêm. Từ dịp Giáng sinh, đèn đã chiếu sáng rực rỡ trên các con đường lớn, rồi sang Tết ta, khu trung tâm bỗng tưng bừng với phố tỏa sáng, và đường hoa về đêm càng thêm lộng lẫy, không hổ danh là “Sài Gòn hoa lệ”. Từ đầu ngày, phố ông đồ đã nhộn nhịp bút nghiên, nhưng đông khách nhất vẫn là buổi tối, có khi các thầy đồ viết không kịp để khách phải chờ lâu. Chợ Bến Thành đêm cũng không kém phần tấp nập, nên những con đường quanh đó đặc kín cả người.

Sài Gòn ơi, thức làm chi cho lòng người xao xuyến?

Tôi bỗng thấy yêu Sài Gòn những đêm không ngủ, bởi khi ấy, Sài Gòn trở về với cái đẹp rất đặc trưng của mình: rực rỡ ngay cả khi lặng lẽ.

Sao cứ mãi đèn hoa cho tôi về say phố?
 
Đường hoa Nguyễn Huệ
Phố tỏa sáng
7.2009

Xích lô - một chút lãng du

"Chị ơi, đêm nay bên hoàng thành có hội. Chị có muốn đi dạo bằng xích lô không?"

Cảm thấy hấp dẫn ngay từ lời mời gọi đầu tiên của anh lái, song tôi đành từ chối vì hôm ấy có việc phải về nhà gấp. Kể ra thì một chuyến dạo chơi đêm trên chiếc xích lô thanh nhã, tản mạn mấy câu chuyện kinh thành và thưởng thức vài món ăn khuya cũng là cái thú khó quên. Bù lại, ngay đêm hôm sau, tôi và một cô bạn Sài Gòn đã tranh thủ làm cuốc xích lô "mini" để ngắm thành phố đêm, dẫu hơi tiếc vì đã qua đêm hội.


Không ít người khi đến Huế đã hỏi: "Sao xích lô ở Huế lại nhiều đến thế?" Quả thực, xích lô hiện diện ở hầu hết mọi nẻo đường, đặc biệt là các đường phố ven sông Hương và những khu khách sạn trong nội thành - nơi tập trung nhiều du khách.

Xích lô vốn là dấu ấn của một thời nghèo khổ, được dùng làm phương tiện chuyên chở chính cho những người không có xe riêng, kiểu như xe ôm bây giờ. Chất lượng sống tăng lên và đô thị ngày càng nhộn nhịp, những tưởng chiếc xích lô sẽ biến mất dần theo năm tháng, nhưng không, xích lô vẫn tồn tại như một kỷ niệm của lịch sử, không những thế, còn trở thành một thú vui tao nhã của những người khách đến cố đô.

Ở Huế, khu vực nội thành không lớn lắm, chia thành hai bờ Nam Sông Hương và Bắc Sông Hương. Bờ Nam là khu hành chính, trường học, khách sạn..., bờ Bắc là khu thương mại, hoàng thành. Thời điểm thích hợp nhất để dạo mát bằng xích lô là buổi tối hoặc chiều khi trời đã tắt nắng - thưởng thức làn gió mát từ sông thổi lên và ngắm thành phố về đêm hoặc lúc hoàng hôn.

Xích lô chạy từ từ như xe đạp, băng qua những con đường rợp bóng cây xanh, qua dòng sông xanh êm đềm chảy giữa lòng thành phố, khiến tâm hồn lâng lâng một khúc lãng du. Khi đêm về, ánh đèn rọi qua vòm lá tạo thành những đốm sáng trắng lay động trên khắp nẻo đường. Đi dạo bằng xích lô có cái tiện là có thể chủ động dừng lại để chụp ảnh nơi mình thích hoặc tạt vào quán chè, quán nước nhâm nhi chút gì đó mà vẫn được chờ.

Do thường xuyên phục vụ khách du lịch nên những người lái xích lô hiểu biết khá nhiều, bản tính người dân Huế lại hiền hòa nên họ thường để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng du khách. Họ có thể kể những câu chuyện xưa và nay, giới thiệu các điểm ăn chơi trong thành phố, cả những nơi để khách mua quà, mua đặc sản vừa rẻ vừa ngon. Trong giới xích lô không ít người thạo ngoại ngữ, chủ yếu là tiếng Anh và tiếng Pháp; có những người đọc thơ và nói điển tích rất "mùi". Những chiếc xích lô gọn gàng và sạch sẽ, không quá cồng kềnh mà cũng không quá chật để khách có thể thư thái ngắm cảnh phố phường. Giá đi dạo mỗi bờ là 50.000 đồng, thường mất khoảng 2 tiếng đồng hồ. Nếu đi cả hai bờ Nam Bắc thì giá gấp đôi.

Chiếc xích lô chở chúng tôi hòa lẫn trong dòng xích lô trôi êm qua các nẻo đường, lướt dưới những vòm cây lung linh đốm sáng. Lời kể chuyện của anh lái đằng sau những vòng xe với những giọt mồ hôi thầm lặng khiến tôi nhớ đến mấy câu thơ trong bài "Giọt nước Hương Giang" của thi sĩ Nguyên Văn Phương (còn gọi là Phương xích lô) - cũng là một anh lái xích lô Huế đã từng xuất bản 2 tập thơ "Chở gió" và "Xích lô hành" - về cái nghiệp mưu sinh của họ:

"Hạt muối hòa tan trong ly nước
Tôi cũng hòa tan giữa cuộc đời
Làm tên phu xe qua ngày tháng
Chở bao tiếng khóc lẫn nụ cười

Vắng khách đôi khi về chở gió
Không tiền không bạc vẫn cười vang
Dừng lại bên cầu nghe nước chảy
Chợt thấy mình: một giọt nước Hương Giang."
3.2009 

Non nước Hạ Long

Về đây, ngắm bình minh trên biển

Tôi sẽ kể bạn nghe về một trong những bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Ở nơi ấy, nước biển thì xanh quá, bờ cát thì mịn và trắng quá, sóng vỗ rì rào ru bản tình ca của gió, núi lại kỳ vĩ và nên thơ. Ở nơi ấy, bạn không thể dậy muộn bởi làm sao bỏ qua được cái khoảnh khắc ngắm thứ bình minh đẹp đến lạ kỳ của vùng biển nằm kề bên núi, cũng không thể cầm lòng khi dạo biển dưới bóng trăng đêm.

Chuyện kể rằng, xưa nơi đây là một vùng biển vắng đầy cánh cò bay. Chiều chiều, từng đàn cò trắng chấp chới rợp trời và bay về đậu khắp làng chài. Người Pháp đến, chọn nơi đây làm khu nghỉ dưỡng và đọc trại “làng cò” thành “Lăng Cô”.

Lại có thêm một giả thuyết nữa về tên gọi của vùng biển này, nghe cũng không kém phần thuyết phục. Trước đây, làng chài có tên là An Cư, phiên âm sang tiếng Pháp là L’Anco, dần dần đọc thành Lăng Cô.

Xuất xứ tên gọi thực hư ra sao, cho đến giờ vẫn chưa thể xác định. Nhưng có một điều ai cũng công nhận: biển Lăng Cô sạch và đẹp.

Lăng Cô nằm không xa đèo Hải Vân – vốn được mệnh danh là “Việt Nam đệ nhất hùng quan”. Biển có bờ cát trắng dài thoai thoải, nước biển trong và xanh ngắt - cái màu xanh đặc biệt pha giữa sắc lam của mây trời lẫn sắc lục của núi rừng. Tắm ở đây thật thoải mái không chỉ vì cảnh đẹp, nước sạch mà còn vì có thể ra xa thoải mái - đến mấy chục mét mà nước vẫn chưa tới thắt lưng.

Sáng sớm, mây trắng từ đỉnh núi như muốn sà xuống biển, tỏa ra một làn sương hư ảo. Rồi mặt trời dần dần ló sau khe núi, rọi những tia nắng mai lung linh trên vùng biển vắng, do có cái mong manh của sương và cái thoáng rộng của núi mà tạo nên một cảnh bình minh vừa trong trẻo, vừa nồng ấm, vừa mát lạnh, vừa dịu dàng, vừa kỳ ảo lại vừa mênh mang. Đâu đó một chiếc thuyền lênh đênh trên biển, cánh chim chao nghiêng bên sườn núi, và những âm thanh sống động từ phía làng chài khiến lòng nôn nao thèm một tô cháo cá mối, bánh canh chả cua, dĩa vẹm xanh nướng… cùng bao món hải sản trứ danh khác.

Hải sản ở Lăng Cô có tiếng là ngon và rẻ - phải nói là ngon và rẻ đến mức bất ngờ. Chúng tôi gồm 4 người lớn và 2 trẻ con, ăn hải sản đến no căng bụng dù miệng vẫn thèm mà chỉ mất hơn 500.000 đồng. Hải sản ở đây có đặc điểm là không lớn lắm, nhưng thịt lại ngọt và chắc. Nếu có thời gian rỗi đi sâu vào xóm chài, có thể mua hải sản vừa đem từ ghe về với giá rất mềm.

Lăng Cô còn có một thứ đặc sản theo chân người xa xứ đi từ Nam chí Bắc: mắm sò. Bạn có thể mua mắm sò về làm quà, hoặc dùng cho gia đình trong những bữa ăn ngon. Chưa hết, do vùng này có sông núi, đầm hồ, rừng nguyên sinh… nên nếu có thời gian, bạn tha hồ khám phá. Những con suối trong góc núi cùng thác nước, bãi đá, rừng cây mang vẻ đẹp hoang sơ quyến rũ của miền sơn cước.

Một chiều tháng 9 đầy nắng và gió, về Lăng Cô tắm biển và ăn hải sản, thấy người khoan khoái và tâm hồn thư thái làm sao.


Ảnh gia đình đi chơi Lăng Cô:


9.2009

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2010

Phá Tam Giang - nơi đầu biển cuối sông

Bởi thuở xưa vẫn thường cùng bè bạn chạy xe về biển Thuận An qua đoạn đường có phá Tam Giang nên nơi đây còn vương vấn trong ký ức tôi nhiều lắm. Trên con đường ấy, phá Tam Giang mênh mông với những con sóng lăn tăn vỗ nhẹ hiện ra trong ánh nắng ban mai rất non - thứ nắng "thủy tinh" lẫn trong làn sương mờ buổi sớm khiến lòng thêm man mác. Chiều từ biển trở về, phá Tam Giang lại nhuộm ánh hoàng hôn thắm đỏ, sóng sánh như mật ong khiến lòng phiêu diêu.

Phá Tam Giang là một vùng nước lợ trù phú với diện tích hơn 50km2, thuộc hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng gần 250km2 trải dọc tỉnh Thừa Thiên Huế, không chỉ là vùng đầm phá tiêu biểu của Việt Nam mà còn là vùng đầm phá lớn nhất Đông Nam Á. Tam Giang có nghĩa là ba sông, tức là nơi ba con sông đổ vào (sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu) và tiếp giáp với biển. Do đặc điểm địa hình, khí hậu và môi trường nước lợ tự nhiên mà thủy hải sản nuôi ở đây rất ngon.

Tam Giang tuy là vùng đầm phá nhưng vẫn có sóng, bây giờ sóng khá hiền nhưng ngày xưa từng có những đợt sóng dữ vẫn được gọi là sóng thần nên có câu ca dao:

"Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang."

Tương truyền rằng, trước đây truông nhà Hồ là một vùng đất bạt ngàn hiểm trở vốn là sào huyệt của một băng cướp rất nguy hiểm, còn phá Tam Giang thì hay có "sóng thần". Quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng nổi tiếng thông minh, biết được nỗi lo sợ của dân chúng đã tìm cách dẹp yên. Một hôm ông cho xe chở lúa và hàng hóa qua truông, cài sẵn một người lính ngồi trong thùng xe chở lúa. Khi bị cướp, người lính ngồi trong thùng xe rải lúa ra dọc đường. Nhờ dấu lúa này mà ông đã lần ra sào huyệt của bọn cướp và cho quân bắt gọn. Dẹp xong cướp truông nhà Hồ, quan Nội tán lại tìm cách trị sóng thần phá Tam Giang. Một mặt ông sai người lặn xuống mở rộng cửa phá để trừ sóng dữ, mặt khác ông cho loan báo trong dân chúng là quan Nội tán sẽ cho quân dùng súng thần công bắn sóng thần trừ họa. Đến ngày đã định, Nguyễn Khoa Đăng đem súng chĩa ra phá, ra lệnh bắn ba phát lớn. Sau khi ba tiếng súng vang lên, khói bay mù mịt và một luồng nước đỏ như máu loang trên mặt phá. Nguyễn Khoa Đăng bảo với dân chúng là sóng thần đã bị trúng đạn chết, từ nay không phải lo sợ nữa. Thực ra thì người của ông đã bí mật lặn xuống và rải phẩm đỏ cho tan dần trong nước. Từ đó sóng thần không còn, thuyền bè qua lại trên phá Tam Giang đều bình an vô sự. Nỗi lo sợ về truông nhà Hồ, phá Tam Giang không còn nữa, nhưng câu hát xưa vẫn còn, nay được chắp thêm hai câu ghi nhớ công ơn của quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng:

"Phá Tam Giang ngày nay đã lặng
Truông Nhà Hồ nội tán dẹp yên."


Chiều qua phá Tam Giang, nghe hương muối mằn mặn tan trong gió biển và nhìn ráng hoàng hôn đỏ rực một góc trời, thấy lòng bình yên lắm. Trập trùng trên mặt phá là những dãy hàng rào lưới, phía xa là hàng phi lao xanh rì vi vút gió. Nếu có thời gian, bạn ngủ một đêm trên phá, theo ghe đi câu mực, đánh cá, bắt tôm, sau đó nướng ăn tại trận thì không còn gì tuyệt bằng. Hải sản Tam Giang, đặc biệt là tôm cá, vốn ngon nổi tiếng. Con tôm phá Tam Giang cũng làm nên nhiều đặc sản đi khắp bốn phương trời. Ở đây còn có thứ ghẹ tí hon chỉ bằng vài ngón tay nhưng ngon ngọt đến "lặng cả người".


Lòng bỗng chợt vấn vương bài thơ của Mai Hữu Phước:

HOÀNG HÔN TRÊN PHÁ TAM GIANG

Một chiều lang thang trên phá
Bên em hương tóc thơm lừng
Mây trời dìu nhau qua núi
Ta dìu nhau qua bâng khuâng

Mênh mang mạn thuyền sóng vỗ
Cánh chim tung trời về đâu?
Bên tai thì thầm em hát
Gió mang lời về muôn sau.

Con còng lang thang góc biển
Cho đời khoảng vắng bình yên
Xin đừng biển Đông xe cát
Ru tình qua giấc cô miên.

Phá Tam Giang chiều ráng đỏ
Màu hoàng hôn buông chơi vơi
Liệu tình hôm nay tha thiết
Mai sau còn tựa vai người.

5. 2008

Biển của một thời để nhớ

Bạn à, hẳn bạn còn nhớ những lần lớp chúng mình đạp xe về biển, nghe trong gió xuân hương lúa thơm nồng và có khi khẽ rùng mình trước cái se lạnh của nắng sớm đang loang dần theo bình minh trên phá Tam Giang – nơi các dòng sông hò hẹn. Hẳn bạn cũng còn nhớ, những chiếc xe đạp ấy lích kích chở gạo, đồ ăn, nồi niêu xoong chảo, bạt, dây và cọc… để chuẩn bị cho một hội trại tưng bừng. Hẳn bạn còn nhớ những câu chuyện vui vui bên bếp lửa của tuổi 17, và hẳn bạn cũng nhớ những lều trại đèn hoa rực rỡ san sát trong rừng phi lao xanh nhìn ra bãi biển cát vàng.
 
Chiều Thuận An với đôi ngựa tâm tình bên bờ biển

Tôi biết Thuận An không đẹp, vâng, trong tận cùng sâu lắng những yêu thương tôi vẫn không thể nào không công nhận cái thực tế ấy, bởi so với những bãi biển khác của Huế như Lăng Cô, Chân Mây, Cảnh Dương, Tư Dung… thì Thuận An thiếu hẳn vẻ mĩ miều kiêu sa của bờ cát trắng phau dài thoai thoải cả chục km, thiếu những ngọn núi cao bốn mùa mây phủ, thiếu làn sương trong vắt đến tinh khôi, thiếu cả sự tĩnh lặng hoang sơ của biển vùng sơn cước…

Nhưng với tôi, Thuận An lại là biển của cả một trời kỷ niệm.

Bởi vì tôi nhớ những giọt mồ hôi của các gã trai trong lớp hì hụi dựng trại rồi giúp các bạn gái nấu ăn trong sự chỉ trỏ ghen tị của nữ nhi lớp khác. À, thì ra con trai lớp mình cũng gallant nhỉ, nhưng cũng vì con gái lớp mình có giá, đúng không nào? Anh bạn lớp trưởng đang trổ tài vặt để cua một nàng trong lớp, nên tiếng guitar và giọng hát cũng ấm áp, nồng nàn. Còn tôi và bạn, hai con nhóc nghịch như quỷ sứ, chuyên gia làm quân sư thư tình cho các đôi trong lớp, mà chẳng kịp thống kê xem hai đứa mình đã phá bao nhiêu đôi. Tôi nhớ đêm trại lớp 11, gió hôm ấy thật dịu dàng quá đỗi và biển nhẹ nhàng vỗ sóng bên bờ cát, bù cho nỗi cô quạnh của bầu trời không trăng không sao. Tôi và bạn đi xem văn nghệ của trường ngoài bãi biển rồi ghé trại lớp khác chơi và về rất khuya, sau đó lại còn nói chuyện tiếp nên không ngủ được, mắt cứ mở to nhìn trời đêm thao thức. Tôi cũng nhớ đêm trại lớp 12 năm ấy, biển động dữ dội vì có bão, cả lớp ngồi quanh đống lửa trại mà nghe tiếng gió rít ở trên đầu, để rồi sáng mai phải nhổ trại sớm mà lòng tiếc nuối chẳng muốn đi.

Tôi còn nhớ một đêm trăng mùa hạ, mười mấy đứa học trò ngồi túm tụm bên bờ biển, tưởng như sao trời đang lấp lánh trong mắt nhau. Đêm ấy trăng đẹp lắm, từ đầu buổi đã thấp thoáng sau những vòm phi lao rồi cuối cùng treo trên đỉnh trời, tỏa ánh sáng vằng vặc tan trong sóng nước. Biển rộng trời cao nên trăng dường như cũng to hơn.

Rồi kỳ thi đại học cũng qua, đẩy những cuộc hội ngộ bên bờ biển dần lùi vào kỷ niệm. Sau này những lần họp lớp toàn rơi vào dịp Tết để bạn bè ở xa có thể về sum họp, nhớ vô cùng con đường dài về biển, trời chớm hè lộng gió thoảng theo hương biển mặn nồng trong những buổi chiều tà thấp thoáng trăng non.

Và tôi viết cho bạn, cho tôi, cho tuổi hoa niên tươi đẹp bên bờ biển rì rào tiếng sóng:

Nghe bạn hát khúc tình ca của biển
Sóng trong tim theo ký ức vọng về
Trăng vẫn sáng bên góc trời lặng lẽ
Tận cùng đêm thao thức đếm mùa trôi

Xa lắm rồi những người bạn của tôi
Lửa vẫn cháy khắp một miền thương nhớ
Đêm trại vui ngày tháng ba bão tố
Biển động gió lên không át được tiếng cười

Kỷ niệm ơi, đừng tan trong khoảng lặng
Tháng năm qua vẫn nhuộm khoảng trời hồng
Điệp anh đào chớm nở cuối mùa đông
Để xuân đến rải sắc hồng vĩnh cửu

Bạn xếp cho mình chuỗi vòng bằng ốc biển
Đêm lặng thầm lấp lánh ánh sao rơi
Theo thời gian bay khắp bốn phương trời
Tuổi mười tám vẫn đi cùng mùa cũ.

Biển không đẹp, nhưng là biển của một thời để nhớ...

5.2009

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010

Thơ mộng đầm Lập An

Đầm Lập An nằm không xa biển Lăng Cô, là một trong những đầm nước lợ lớn và đẹp thuộc hệ thống đầm phá phong phú của xứ Huế. Tuy là đầm nhưng nước rất trong có thể nhìn thấy đáy, xanh ngắt màu trời. Bao quanh đầm là con đường chạy ven chân núi, tạo một cảnh quan hết sức nên thơ: một bên là dải nước xanh như ngọc, một bên là núi non trùng điệp.

Đây là chùm ảnh đầm Lập An mình chụp vào đầu tháng 9 năm 2009.


Hến sông Hương

 Trong bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” của nhà thơ Hàn Mặc Tử, có một đoạn thơ giữa như sau:

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Địa danh của thôn Vỹ mà nhà thơ đang nhắc đến chính là cồn Hến.

Cồn Hến là một hòn đảo nhỏ nổi lên giữa sông Hương, nằm bên trái kinh thành, chia dòng sông thơ mộng này làm hai nhánh. Đây là một vùng đất trù phú xanh tươi do phù sa sông Hương bồi đắp, được ví như rồng xanh. Các nhà phong thủy xưa thường nói “tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ” với ý so sánh cồn Hến và cồn Dã Viên là rồng xanh, hổ trắng chầu hai bên tả hữu hoàng thành.


Gọi là cồn Hến, bởi ở vùng này có rất nhiều hến và là loại hến ngon ngọt đặc biệt không nơi nào có mà người ta vẫn gọi là “hến sông Hương”. Hến sông Hương làm nên những thứ cơm hến, bún hến, hến xào… trứ danh mà ở các vùng miền khác, dù là dân Huế đến làm với nghề chế biến gia truyền vẫn không tạo ra được. Tôi hiểu vì sao mà ở Sài Gòn, đi vào những nhà hàng Huế sang trọng, vẫn thấy không ngon như ngồi bộ bàn ghế nhựa giản dị, dưới khóm trúc, hàng cau… nhìn ra mặt sông xanh ngắt và nếm thứ hến nhỏ li ti ngọt mát, ăn ly chè bắp thơm nồng.

Cồn Hến có hai thứ đặc sản mà những ai đến Huế nên thưởng thức, đó là hến và bắp. Bắp cồn Hến thơm và ngon. Những trái bắp non cắn vào ngọt đến chân răng với dòng nước ứa ra như sữa, khiến người đi xa cả hàng chục năm khi nhắc về quê hương vẫn nặng tình thương mến. Thứ bắp ấy cũng được dùng để nấu chè, ăn với đá bào rất dịu.

Cơm hến và chè bắp có ở hầu hết các nẻo đường thành phố, nhưng đã đến Huế thì ít nhất một lần phải ghé qua cồn Hến để ăn những đặc sản này “mới đành”. Cách thưởng thức thú vị nhất là buổi chiều khi hoàng hôn vừa buông xuống, đi thuyền rồng trên sông Hương xuôi về vùng Vỹ Dạ, ngắm cảnh non nước thanh bình và lên Cồn ăn tại các quán ven sông. Ngồi ở đây rất mát và không khí trong lành nhờ có gió sông Hương thổi lên và những vườn cây xanh mướt trong cồn như lá phổi xanh của thành phố. Giá cả cũng rất dễ chịu: tô cơm hến 4000 đồng, dĩa hến xào 5000 đồng, ly chè bắp 3000 đồng.

Nếu có dịp đến cồn vào buổi sáng sớm, khi một chút nắng vừa lên nhưng sương vẫn tỏa trên mặt sông, nhạt nhòa một màu hư ảo, bạn có thể hiểu vì sao Hàn thi sĩ đã phải thốt lên: “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”. Buổi sáng chìm trong tĩnh lặng nhưng vẫn có cái không khí xôn xao của cảnh sinh hoạt đời thường bởi những âm thanh từ hến. Hến sông Hương rất nhỏ, vị ngọt và mát, không tanh, bởi nước sông nơi đây mát lành, trong vắt và ít phèn.

Về vùng Vỹ Dạ, nhấm nháp chút café buổi sớm hay thưởng thức món ăn vùng cồn, nếu đúng dịp bắp vào mùa lại còn nghe hương bắp non thoảng lại, thấy lòng quên hết những vướng bận đời thường, chợt nhớ câu thơ:

“Sương lạnh sông vắng mong người cũ
Bến nước đông tàn đợi cố nhân”

Sông Hương - đoạn chảy qua cồn Hến

Hến sông Hương – với món cơm hến 13 vị đặc trưng cho âm dương, ngũ hành – đôi khi không cần phải đến cồn mới được ăn, mà hiện diện nơi một gánh hàng rong nào đó, dạo khắp các nẻo đường theo chân các “mệ”, có những người mặc chiếc áo dài tím rất xưa, có lẽ là nét đẹp rất đời thường, giản dị, thầm lặng làm vọng về hơi thở của chốn kinh kỳ tự ngàn xưa.

9.2008

Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2010

Nam Cát Tiên mùa nước nổi

Người ta đi rừng vào mùa khô, còn tôi lại đi vào mùa mưa.

Mùa mưa - cũng đồng nghĩa với việc vắt và muỗi nhiều không đếm xuể - mà vắt và muỗi Nam Cát Tiên có thể nói là "khét tiếng" cả xứ Nam này. Nhiều người vì thế mà ngại đi rừng mùa mưa, đành bỏ qua cái đẹp lãng đãng khói sương của Nam Cát Tiên mùa nước nổi và con đường rừng ngập tràn cánh bướm chấp chới bên những mảng xanh đọng nước long lanh.

Bàu Sấu, rừng Nam Cát Tiên

Tôi vốn sợ vắt, nhưng nỗi sợ hãi đó không át nổi niềm đam mê khám phá rừng xanh, bởi tôi đã từng đi Bạch Mã một lần và ngất ngây trước cảnh đẹp ở nơi ấy. Cũng chính vì sợ quá mà lần này đi Nam Cát Tiên, tôi phòng bị rất kỹ: bôi thuốc chống vắt dày đặc khắp giày, vớ và chân; mặc quần jeans xắn cao; bước chân băng rừng thoăn thoắt không hề ngừng lại dù mệt tới đâu. Nhờ đó mà dù đi rừng mùa mưa, vắt nằm la liệt dưới chân, tôi vẫn không "hiến máu" cho bất kỳ con vắt nào cả lượt đi lẫn lượt về.

Nam Cát Tiên được ngăn cách với "thế giới bên ngoài" bằng một con sông chảy xiết có màu nước sẫm phù sa. Chúng tôi phải đi cano qua sông, ra đến giữa sông nhìn lại thấy làn mây trắng bay giữa hàng cây soi bóng nước - dẫu là thứ nước rất đục - lòng vẫn có cảm giác lâng lâng khó tả.

Sông Đồng Nai

Vì đã quyết định ngủ trong bàu Sấu để tìm chút cảm giác mạnh chứ không ở lại bìa rừng, nên chúng tôi lên đường ngay để thám hiểm trung tâm rừng Nam Cát Tiên. Trước hết là 10km xuyên rừng trên chiếc xe jeep mui trần, phải nói là cực kỳ thú vị với những cung bậc cảm xúc trái ngược. Bác tài cho xe lao ào ào, mỗi lần băng qua vũng nước hay con suối nhỏ là nước tóe lên trắng xóa. Tôi ngồi ngoài nên thỉnh thoảng phải nghiêng đầu tránh những cành cây chìa ra quẹt vào. Khí rừng mát lạnh, cây rợp bốn bề, nhưng ngẩng đầu lên vẫn thấy khoảng trời xanh bồng bềnh mây trắng xuyên qua vòm lá. Hai bên đường rừng là hàng ngàn cánh bướm bay chấp chới. Sở dĩ bướm nhiều như vậy vì bây giờ đúng là mùa mưa - mùa bướm sinh sôi nảy nở.

Trong rừng

Kết thúc 10km băng rừng trên xe, chúng tôi đến con đường mòn trong rừng rậm dẫn vào bàu Sấu. Ở đây đương nhiên phải đi bộ, và nỗi ám ảnh về vắt bắt đầu. Những con vắt bé tí nhưng nổi tiếng là "dũng sĩ hút máu" của rừng xanh, đánh hơi người rất nhanh và bám rất dai. Nhớ lời dặn của bác tài vốn nhiều kinh nghiệm đi rừng, tôi nhấc từng bước thật cao và bước nhanh, dứt khoát, mắt nhìn chăm chăm xuống đất để thỉnh thoảng lại thấy vài em vắt bám trên lá mục "vẫy chào thân thiện". Đi bộ 5km trong rừng quả là không hề đơn giản, nhưng vì cảnh giác cao độ mà tôi không hề thấy mệt. Rừng mát rượi, yên tĩnh. Thỉnh thoảng có chú chim hay gà rừng phóng vụt qua. Thỉnh thoảng lại nghe những âm thanh giống như heo rừng thở, tạo ra cảm giác căng thẳng kỳ thú. Tôi khoác balô sau lưng, đeo máy ảnh trước ngực, thấy cảnh nào đẹp là vừa đi vừa chụp.

Mãi rồi cũng đến cây cầu gỗ báo hiệu đã qua chặng đường 4,5km và không còn xa bàu Sấu. Đến đây thì không còn sợ vắt nữa, tôi tháo ba lô và bắt đầu nhí nhảnh chụp hình. Đi rừng hẳn nhiên phải phờ phạc và kém sắc rồi, nhưng nụ cười vẫn còn tươi lắm.

Chúng tôi đi qua rừng cây bằng lăng. Những chùm bằng lăng tím thơ mộng ngả mình trên mặt nước như một điểm nhấn lãng mạn cho cái nơi hoang vắng này. Bàu Sấu hiện ra với vẻ mênh mang của mùa nước nổi. Anh kiểm lâm cho biết vào mùa khô, bờ nước xa tít đằng kia và nơi đây là bãi cỏ xanh. Mùa mưa, nước tràn lênh láng đến chân nhà sàn. Chúng tôi đi trên những "con đường gỗ", dưới chân là nước mênh mông với loài sinh vật không mấy hiền lành: cá sấu.
 
Chiều tím giữa rừng hoa
Lãng mạn ráng chiều vàng

Bàu Sấu là khu trung tâm rừng Nam Cát Tiên - một hồ nước ngọt chứa đầy cá sấu. Ban ngày, chúng tôi không thấy cá sấu nhiều, có chăng chỉ vài ba con lượn lờ ở gần bờ. Cũng vì vậy mà mấy bạn trẻ trong đoàn táo bạo lấy thuyền chèo ra giữa bàu chơi, mặc cho mây đen sầm sập kéo tới báo hiệu cơn mưa chiều.

Bàu Sấu là nơi cực kỳ nhạy cảm với những khoảnh khắc dịu dàng và nổi loạn của thiên nhiên, nên dẫu khi bầu trời đầy mây đen vần vũ hay vàng ánh hoàng hôn, bàu Sấu vẫn mênh mang một vẻ đẹp lạ lùng khó tả: những ngọn lau vươn mình trên mặt nước, trên trời hoa đổ xuống bâng khuâng, chiếc thuyền rẽ nước đi giữa chiều xám lạnh rồi từng đàn chim bay qua mảng trời vàng. Đến đêm, đom đóm chập chờn bay ra lung linh trên mặt nước; và cá sấu bắt đầu thức giấc, mắt đỏ như đèn pin. Lúc này chúng tôi rọi đèn xem mới thấy cá sấu nổi la liệt, khiến cũng kẻ to gan lúc chiều lạnh cả gáy. Đêm rừng hoang vắng và lành lạnh, tiếng côn trùng rả rích thật buồn, muỗi thì bay từng đàn đến mức chẳng còn dám nói chuyện vì sợ chui vào miệng.
 
Hoa lau
Chim bay mải miết trong chiều hoàng hôn


Cá sấu đêm

Và buổi sáng, chợt ngỡ ngàng vì một vẻ đẹp "sương khói mờ nhân ảnh". Bình minh lên cùng màn sương mờ ảo giăng trên bàu Sấu, và không gian buổi mai mát lạnh như một giọt sương. Nam Cát Tiên giờ đây không còn vẻ hoang vắng rùng rợn, mà nên thơ lạ lùng. Một chút luyến tiếc chợt níu kéo những bước chân sắp giã từ, nhưng vì đã hẹn bác tài đón ở ngoài nên không thể chần chừ nán lại. Lại tiếp tục 5km đi bộ, 10km trên xe jeep mui trần, sau đó chúng tôi còn đi cano trên sông đến đảo Tiên khám phá thác rừng.

Lãng đãng sương giăng

Chân thành mà nói, Nam Cát Tiên không có nhiều cảnh đẹp như Bạch Mã, cũng không kỳ ảo với những làn mây trắng sóng sánh như kem quyện giữa những bước chân, nhưng Nam Cát Tiên mùa nước nổi vẫn có cái hay riêng của đất rừng phương Nam. Biết diễn tả thế nào nhỉ - có lẽ đó là "cảm xúc dữ dội kỳ thú".

2.10.2009